Thiếu Nhi Sống Lời Chúa, Chúa Nhật thứ 4 mùa chay năm A 15/03/2026.

BÀI ĐỌC I: 1 Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a
“Đavit được xức dầu làm vua Israel”.
Trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: “Hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường. Ta sai ngươi đến nhà Isai dân thành Bêlem, vì Ta chọn một người con của ông ấy lên làm vua”.
Khi (họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Eliab và nói: “Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?” Và Chúa phán cùng Samuel: “Đừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”. Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai: “Chúa không chọn ai trong những người này”. Samuel nói tiếp: “Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?” Isai đáp: “Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên”. Samuel nói với Isai: “Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về”. Isai sai người đi tìm đứa con út. Đứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: “Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó”. Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Đavít từ ngày đó trở đi.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Đáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).
1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. – Đáp.
2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. – Đáp.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. – Đáp.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. – Đáp.
BÀI ĐỌC II: Ep 5, 8-14
“Từ trong cõi chết, ngươi hãy đứng lên và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật. Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì, nhưng phải tố cáo thì hơn. Vì chưng, việc chúng làm cách thầm kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn. Nhưng tất cả những việc người ta tố cáo, thì nhờ sự sáng mà được tỏ bày ra; vì mọi việc được tỏ bày, đều là sự sáng. Bởi thế, thiên hạ nói: “Hỡi kẻ đang ngủ, hãy thức dậy, hãy vùng dậy ra khỏi cõi chết, và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.
Đó là lời Chúa.
CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Ga 8, 12b
Chúa phán: “Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống”.
PHÚC ÂM: Ga 9, 1-41 (bài dài)
“Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?” Chúa Giêsu đáp: “Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh. Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Đấng đã sai Ta. Đêm đến không ai có thể làm việc được nữa. Bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian”. Nói xong, Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôê mà rửa” (chữ Silôê có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.
Những người láng giềng và những kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Đúng hắn!” Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”. Họ hỏi anh: “Làm thế nào mắt anh được sáng?” Anh ta nói: “Người mà thiên hạ gọi là Giêsu đã làm bùn xức mắt tôi và bảo: Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa. Bấy giờ tôi đi, tôi rửa và tôi trông thấy”. Họ lại hỏi: “Ngài ở đâu?” Anh thưa: “Tôi không biết”.
Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt? Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Đó là một tiên tri”.
Nhưng người Dothái không muốn tin anh đã mù và đã được khỏi trước khi đòi cha mẹ anh đến. Họ hỏi hai ông bà: “Người này có phải là con hai ông bà mà ông bà bảo bị mù từ khi mới sinh không? Do đâu mà bây giờ nó lại trông thấy?” Cha mẹ y thưa rằng: “Chúng tôi xác nhận đây chính là con chúng tôi, và nó đã bị mù từ khi mới sinh. Nhưng làm sao mà bây giờ nó trông thấy, và ai đã mở mắt cho nó thì chúng tôi không biết. Nó khôn lớn rồi, các ông hãy hỏi nó, nó sẽ tự thưa lấy”. Cha mẹ anh ta nói thế bởi sợ người Dothái, vì người Dothái đã bàn định trục xuất khỏi hội đường bất cứ ai dám công nhận Chúa Giêsu là Đấng Kitô. Chính vì lý do này mà cha mẹ anh ta nói: “Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó”.
Lúc ấy người Dothái lại gọi người trước kia đã mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa! Phần chúng ta, chúng ta biết người đó là một kẻ tội lỗi”. Anh ta trả lời: “Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy”. Họ hỏi anh: “Người đó đã làm gì cho anh? Người đó đã mở mắt anh thế nào?” Anh thưa: “Tôi đã nói và các ông đã nghe, các ông còn muốn nghe gì nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ Ngài chăng?” Họ liền nguyền rủa anh ta và bảo: “Mày hãy làm môn đệ của người đó đi, còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với Môsê, còn người đó chúng ta không biết bởi đâu mà đến”. Anh đáp: “Đó mới thật là điều lạ: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.
Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Chúa Giêsu liền nói: “Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù”. Những người biệt phái có mặt ở đó liền nói với Người: “Thế ra chúng tôi mù cả ư?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói ‘Chúng tôi xem thấy’, nên tội các ngươi vẫn còn”.
Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này: Ga 9, 1. 6-9. 13-17. 34-38
Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa” (chữ Silôe có nghĩa là được sai)”. Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.
Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Đúng hắn”. Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”.
Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Đó là một Tiên tri”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.
Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người.
Đó là lời Chúa.

Chủ tế: Anh chị em thân mến, chúng ta khẩn cầu Thiên Chúa giải thoát chúng ta khỏi bóng tối và sự sợ hãi, để biến đổi chúng ta thành ánh sáng cho trần gian. Trong tâm tình đó, chúng ta dâng lời cầu nguyện.
1. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy sống xứng đáng là con cái của sự sáng. Xin cho mỗi Kitô hữu hân hoan vì hồng ân nhận biết Chúa Cha và Đức Giêsu là Con của Ngài, đồng thời để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn.
2. Chúa Giêsu mở mắt cho người mù từ thuở mới sinh. Xin cũng mở mắt và mở tâm trí những người đang nắm giữ vận mệnh của nhân loại, để họ luôn hành động vì công bình, và nỗ lực xây dựng nền văn minh tình thương.
3. Chúa Giêsu giúp mỗi người chúng ta nhận biết Người và nhờ đó được lớn lên trong đức tin. Nhờ lời Chúa, xin cho chúng ta mỗi ngày được lớn lên trong sự hiệp thông với Chúa và với anh chị em.
4. Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống của Chúa Cha từ trời xuống. Được chia sẻ cùng một tấm Bánh Thánh Thể, xin cho mỗi người chúng ta biết chia sẻ bánh hằng ngày với anh chị em, để không ai trong các con cái Chúa cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi.
Chủ tế: Lạy Cha là nguồn mạch ơn tha thứ, trong Chúa Giêsu, Cha đã ban cho chúng con sự tự do đích thực, xin nhận lời cầu nguyện của chúng con, và xin hướng dẫn để chúng con sống theo giáo huấn của Tin Mừng, biết quảng đại phục vụ anh chị em. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
Bài giảng Chúa nhật cho thiếu nhi: Chúa nhật 4 Mùa Chay năm A
Thiếu nhi chúng con yêu quí.
Lại một lần nữa chúng con được nghe một câu chuyện đẹp. Cha có thể nói rất là rất đẹp. Câu chuyện hôm nay là câu chuyện của một người mù, lại mù từ khi mới sinh. Qua câu chuyện này, chúng ta được thấy thật rõ tình thương của Chúa. Tình thương ấy được bộc lộ ra như thế nào thì chúng con sẽ hiểu.
1. Sự kiện.
Trước hết, chúng con thấy hôm nay Chúa tự tìm đến với người mù. Anh không xin Chúa. Cũng chẳng có ai thương tình dẫn anh tới Chúa. Chúa tự tìm đến với anh. Và Chúa muốn chữa cho anh nếu anh muốn.
Khi Chúa mới đến, anh chẳng biết Chúa là ai. Lúc Chúa lấy bùn xức vào mắt anh, anh cũng chẳng biết Chúa làm như thế để làm gì. Rồi khi Chúa bảo anh đứng dậy đi tới suối Siloac mà rửa anh cũng chưa biết đi rửa như thế có ăn thua gì không. Vậy mà anh cứ đi và sau khi anh rửa, mắt anh được sáng ra. Anh nhìn thấy được. Anh hạnh phúc quá nhưng anh vẫn chưa biết rõ người đã mở mắt cho mình là ai. Anh chỉ biết lờ mờ “Người mà người ta gọi là Giêsu”. “Người mà người ta gọi là Giêsu”(Ga 9,11). Đó là tất cả những gì anh biết về Chúa. Ngoài ra Người ở đâu, anh không biết. Ngài là người như thế nào anh cũng chẳng hay.
Giả như câu chuyện dừng lại ở đây như bao câu chuyện phép lạ khác Chúa đã làm cha tưởng cũng đã đẹp rồi. Nhưng những sự việc diễn ra sau đó lại làm cho câu chuyện đẹp hơn, đẹp hơn gấp bội phần.
Vậy thì sau đó thì sao ? Cha thấy sau đó là một cuộc chiến. Cuộc chiến này có hai phe. Một phe gồm cả một thế lực hùng mạnh của tôn giáo và trần thế. Phe này bằng mọi cách muốn phủ nhận phép lạ Chúa làm. Phe thứ hai là một mình anh mù mới được Chúa cho sáng mắt. Phe này chỉ có một mình anh. Anh chỉ có một mình nhưng là người hùng trong trận chiến này. Anh quyết tâm bênh vực sự thật cho tới cùng, dù có phải hy sinh, dù phải đối diện với những thử thách vừa nguy hiểm vừa to lớn anh chưa hề gặp trong đời.
Khi anh được người ta tra vấn về nguyên do anh được sáng mắt, trong lúc người ta tìm mọi cách để kết án Chúa thì anh lại dõng dạc tuyên bố: “Ngài là một tiên tri”(Ga 9,17).
Rất thẳng thắn và cũng rất chân thành. Không có gì là úp mở cả.
Rồi khi người ta dùng áp lực để dọa cha mẹ anh và tiếp sau là đe dọa cả anh thì lúc ấy chúng ta thấy anh trở nên can đảm lạ thường. Dường như anh không còn biết sợ là gì nữa. Thái độ của anh khác hẳn với thái độ của cha mẹ anh. Anh thẳng thắn dõng dạc tuyên bố trước mặt mọi người “Chúng ta biết Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi. Còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe có ai đã mở mắt cho người mù từ khi mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến thì ông ta chẳng làm được gì”(Ga 9,31-33)
2. Bài học
Vâng anh đã được mở mắt. Anh đã được thấy sự thật và anh đã dám gắn bó với sự thật đó và cho dù anh có phải trả một giá rất đắt anh cũng sẵn lòng. Chúng ta không thể hiểu hết những gì anh phải hứng chịu khi người ta dùng một biện pháp kể cả việc trục xuất anh ra khỏi hội đường để trừng phạt anh.
Trước kia anh mù, cuộc sống của anh đã khổ. Bây giờ anh được sáng mất, tưởng như cuộc sống sẽ thuận lợi hơn…ai dè bây giờ cha mẹ anh không dám bênh vực, xã hội chẳng giúp anh được gì. Chỉ còn một chút hy vọng vào cộng đoàn tôn giáo thì người ta lại trục xuất anh, đưa anh trở lại với cuộc sống còn cô đơn và bất hạnh hơn trước.
Trước đây anh mù nhưng thỉnh thoảng còn có người thi ân bố thí. Có gần anh người ta cũng không phải sợ.
Bây giờ khi anh bị trục xuất ra khỏi hội đường, anh sẽ phải tự cách ly với tất cả mọi người. Không ai dám tiếp xúc với anh, không ai dám giao thiệp với anh, không ai dám gần gũi với anh…thật là kinh khủng.
Thế nhưng con người mù này vẫn một lòng can đảm. Đây là một bài học cho mọi người chúng ta.
Chúng con hãy nghe câu chuyện này:
Abraham từ ngày được Thiên Chúa chọn, ngày càng sống thân tình với Thiên Chúa hơn và xa cách các thần tượng. Thấy thế, ông thân sinh dẫn Abraham đến trước mặt vua Ramos, nhà vua hỏi Abraham:
– Tại sao ngươi lại không tôn thờ các thần tượng của vương quốc ?
Abraham trả lời với giọng cương quyết không hề sợ hãi:
– Tâu hoàng thượng, bởi vì lửa thiêu rụi các thần tượng ấy.
– Như vậy thì hãy tôn thờ lửa – Vua trả lời. Nhưng Abraham đáp:
– Nếu thế, hạ thần tôn thờ nước tốt hơn, vì nước dập tắt được lửa.
– Thế thì hãy tôn thờ nước.
– Tâu hoàng thượng, không. Hạ thần tôn thờ mây thì tốt hơn, bởi nước từ mây mà ra.
– Thế thì hãy tôn thờ gió.
Nghe thế, Abraham trả lời vua Ramos:
– Nếu gió là Thiên Chúa thì ta hãy tôn thờ con người, vì con người có hơi thở.
Vua Ramos kiên nhẫn:
– Vậy thì hãy tôn thờ con người.
Abraham trả lời:
– Tâu hoàng thượng, không. Vì con người phải chết.
Nhà vua giận dữ quát lên.
– Vậy thì hãy tôn thờ sự chết đi.
Sau cùng Abraham nói:
– Đấng duy nhất phải tôn thờ là chủ tể của cả sự sống và sự chết, đó là Thiên Chúa, Chúa của hạ thần.
Sau cuộc cãi nhau với vua Ramos, Abraham trở thành ngôn sứ của Thiên Chúa bởi vì ông vén mở cho nhà vua thấy sự thật và sứ điệp của Chúa muốn nhắn gởi.
Chúng ta cũng hảy Can Đảm tuyên xưng Chúa trước mặt mọi người như Abraham trong câu chuyện vừa nghe và nhất là người mù trong bài Tin Mừng.
Cách đây 03 thế kỷ có một người thợ dệt tên là Roger Wrenne, sống ở miền Lancaster bên Anh Quốc. Vào thời đó xảy ra một cuộc bách hại khốc liệt nhằm vào các người Công Giáo. Người nào không chịu bỏ đạo sẽ bị tịch thu hết tài sản và có thể mất cả mạng sống.
Roger Wrenne, vì không chịu chối đạo, đã bị kết án treo cổ. Đao phủ cột ông vào cột, nhưng rồi dây bị đứt và Roger Wrenne rơi xuống đất nhưng vẫn sống. Quan tòa lợi dụng ngay cơ hội này bảo anh xin ân huệ nếu anh chấp nhận chối bỏ đức tin Công Giáo. Nhưng Roger Wrenne đáp: “Tôi trước sau như một”. Rồi anh vội vã leo lên chiếc thang dẫn tới đỉnh của cây cột dùng để treo cổ tội nhân. Đao phủ trố mắt nhìn anh với vẻ ngạc nhiên lạ lùng và cười nói với anh: “Ê! mà vội vã thế sao ?”.
Người bị lết án tử trả lời: “Nếu anh thấy được những gì Thiên Chúa vừa chỉ cho tôi thấy, chắc là các anh cũng sẽ vội vàng muốn chết như tôi!”.
Roger Wrenne đã thấy trời mở ra trước mặt!
Một em bé gái Trung Hoa khẩn xin Giám mục ban cho em bí tích Thêm sức. Vị linh mục thừa sai do dự: em còn quá trẻ. Tuy vậy, em vẫn luôn cầu khẩn điều em xin:
– Sau khi con Thêm sức, nếu như quan quyền bỏ tù con và nếu họ hỏi con về đức tin, con sẽ trả lời như thế nào ?
– Thưa đức cha, con sẽ trả lời rằng con là Kitô hữu nhờ ơn của Chúa.
– Và nếu họ yêu cầu con từ chối Tin Mừng, con sẽ làm gì ?
– Con sẽ trả lời: không bao giờ !
– Nếu họ kêu đao phủ tới và nói với con: ngươi hãy bỏ đạo đi, nếu không sẽ bị chặt đầu. Đâu là câu trả lời của con ?
– Con sẽ nói: cứ chặt !
Và em bé này đã được lãnh nhận bí tích Thêm sức
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con lòng can đảm để chúng con biết tuyên xưng Chúa trước mặt mọi người.



Thiếu Nhi Vui Học Thánh Kinh
Chúa Nhật 4 Mùa Chay A
Tin Mừng thánh Gio-an 9, 1-41I. TRẮC NGHIỆM
01. Si-lô-ác có nghĩa là gì? (Ga 9,7)
a. Người được sai phái.
b. Người được yêu thương.
c. Người được Thiên Chúa cứu độ.
d. Người được làm cho sáng mắt.
02. Đức Giê-su chữa người bị mù từ thuở mới sinh vào ngày lễ gì? (Ga 9,14)
a. Lễ Vượt qua. b. Lễ Ngũ tuần.
c. Ngày thứ nhất trong tuần. d. Ngày Sa-bát.
03. Anh mù nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh? (Ga 9,17)
a. Là 1 luật sĩ. b. Là 1 tư tế.
c. Là 1 thượng tế. d. Là 1 vị ngôn sứ.
04. Đức Giê-su nói: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và… … … .” (Ga 9,39)
a. Kẻ xem thấy được trở nên con ánh sáng.
b. Kẻ xem thấy lại nên đui mù.
c. Kẻ tội lỗi nên người công chính.
d. Kẻ xem thấy được đi trên đường công chính.
05. Những người Pha-ri-sêu tự nhận mình là môn đệ của ai? (Ga 9,28)
a. Ông Gio-an Tẩy giả. b. Ông Ê-li-a.
c. Ông Mô-sê. d. Ông Ga-ma-liên.

II. Ô CHỮ
Những gợi ý
01. Đức Giê-su chữa người mù từ thuở mới sinh vào ngày gì? (Ga 9,12).
02. Đức Giê-su đã thoa gì vào mắt người mù, để anh tin và được nhìn thấy? (Ga 9,14).
03. Người bị mù trước đây được dẫn đến những ai để chất vấn? (Ga 9,13).
04. Những người Pha-ri-sêu là môn đệ của ai? (Ga 9,28)
05. Tên hồ nước, nơi anh mù đến rửa và được thấy là gì? (Ga 9,7).
06. Anh mù nghĩ về người đã mở mắt mình là ai? (Ga 9,17).
07. Ai là người đã mở mắt cho anh mù? (Ga 9,11)
Hàng dọc: Chủ đề của ô chữ này là gì?
III. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG
“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”
Tin mừng theo thánh Gio-an Ga 9, 39
Lời giải đáp
Thiếu Nhi Vui Học Thánh Kinh
Chúa Nhật 4 Mùa Chay Năm A
I. TRẮC NGHIỆM
01. a. Người được sai phái (Ga 9,7)
02. d. Ngày sa-bát (Ga 9,14)
03. d. Là 1 vị ngôn sứ (Ga 9, 17)
04. b. Kẻ xem thấy lại nên đui mù (Ga 9,3)
05. c. Ông Mô-sê (Ga 9,28)
II. Ô CHỮ
01. Sa-bát (Ga 9,12).
02. Bùn Ga 9,14).
03. Pha-ri-sêu (Ga 9,13).
04. Mô-sê (Ga 9,28).
05. Si-lô-ác (Ga 9,7).
06. Ngôn sứ (Ga 9,17).
07. Giê-su (Ga 9,11)
Hàng dọc: Ánh Sáng
Thiếu Nhi VHTK – CN4MCA – Hình tô màu
Tô màu rất dễ. Chúc các em có những giây phút vui tươi thoải mái.


Ga 9,1-41
1. Bài Tin mừng Ga 9,1-41 gồm 8 cuộc gặp gỡ khác nhau. Bạn có thể kể ra không?
2. Trước câu hỏi tại sao anh bị mù từ thuở mới sinh, Đức Giêsu đã trả lời ra sao? Đọc Ga 9,1-5.
3. Đọc Ga 9,8-12. Anh mù có biết người đã chữa cho mình là ai không? Anh có thái độ nào trước những người láng giềng đang chia rẽ?
4. Đọc Ga 9,13-17. Tại sao có sự chia rẽ trong nhóm Pharisêu? Đối với họ, Đức Giêsu là ai?
5. Đọc Ga 9,18-23. Đâu là thái độ của cha mẹ anh mù khi họ bị những người Do-thái tra hỏi?
6. Đọc Ga 9,24-34. Đâu là thái độ của anh mù khi đứng trước những người Do-thái?
7. Anh mù được sáng mắt và đã sáng lòng. Anh từ từ lớn lên trong niềm tin đối với Đức Giêsu. Hãy cho thấy hành trình đó qua các đoạn sau: Ga 9,11-12.17.30-33.35-38.
8. Người Do-thái hay người Pharisêu hỏi làm sao anh mù được khỏi mấy lần? Tại sao họ hỏi nhiều lần như vậy?
GỢI Ý SUY NIỆM: Anh mù từ lúc mới sinh đã được Đức Giêsu làm cho sáng mắt, và hơn nữa, anh đã tin vào Đức Giêsu. Ngược lại, giới lãnh đạo Do-thái giáo nghĩ mình sáng mắt, lại trở nên mù lòa, vì cố tình không tin Đức Giêsu. Bạn nghĩ mình có thể rơi vào sự mù lòa tương tự không?
PHẦN TRẢ LỜI
1. Bối cảnh của bài Tin mừng này có lẽ vẫn là Giêrusalem, sau những ngày Lễ Lều (Ga 7). Có 8 cuộc đối thoại trong đoạn Tin mừng này: giữa Đức Giêsu và các môn đệ (Ga 9,1-5), giữa Đức Giêsu và anh mù (Ga 9,6-7); giữa anh mù đã được sáng mắt và những người quen biết anh (Ga 9,8-12); giữa anh mù được sáng mắt với những người Pharisêu (Ga 9,13-17); giữa những người Do-thái với cha mẹ của anh mù được sáng mắt (Ga 9,18-23); giữa những người Do-thái với anh mù được sáng mắt (Ga 9,24-34); giữa Đức Giêsu và anh mù được sáng mắt (Ga 9,35-38); cuối cùng, giữa Đức Giêsu và những người Pharisêu (Ga 9,39-41). Trong bài này, ta thấy nhắc đến nhóm những người Pharisêu (Ga 9,13.15.16.40) và nhóm những người Do-thái (Ga 9,18). Thật ra đây chỉ là một nhóm người thôi, nhóm này gồm những người lãnh đạo Do-thái giáo, có thái độ chống đối Đức Giêsu (x. Ga 9,24).
2. Các môn đệ thắc mắc về nguyên nhân khiến một người bị mù ngay từ thuở mới sinh: do tội của anh hay do tội của cha mẹ anh (Ga 9,1-2). Thời xưa, người khuyết tật thường bị coi là do Thiên Chúa phạt vì người ấy đã phạm tội. Nhưng anh bị mù từ thuở mới sinh không thể phạm tội ngay từ lúc lọt lòng. Vậy phải chăng anh bị mù là do tội của cha mẹ anh? Đức Giêsu đã trả lời bằng một câu khó hiểu (Ga 9,3-4). Dựa trên câu trả lời này, anh bị mù không do tội của anh, cũng không do tội của cha mẹ anh, nhưng qua những gì Đức Giêsu sắp làm cho anh, mọi người thấy được công trình của Thiên Chúa, và nhận ra Đức Giêsu là ánh sáng cho thế gian (Ga 9,5).
3. Sau khi anh mù được sáng mắt, có một cuộc tranh luận giữa những người quen biết anh: có phải anh đúng là người mù thường ngồi ăn xin đó không? Anh đã chấm dứt cuộc tranh luận bằng khẳng định: “Chính tôi đây” (Ga 9,8-9). Anh mù, nay được sáng mắt, biết tên người đã chữa cho mình, nhưng không biết người ấy ở đâu (Ga 9,11-12). Anh còn kể lại cho những người quen biết về cách thức Đức Giêsu đã chữa cho anh: trộn bùn, xức vào mắt rồi bảo anh đi rửa ở hồ Si-lô-ác.
4. Anh mù được sáng mắt giờ đây bị dẫn đến trước những người Pharisêu. Họ muốn hỏi lại để biết chắc là anh đã bị mù và nay đã thấy được, nhờ Đức Giêsu lấy bùn thoa vào mắt anh và bảo anh đi rửa (Ga 9,15). Vấn đề gây tranh cãi ở đây là Đức Giêsu đã chữa anh mù vào ngày sa-bát, ngày bị cấm không được chữa bệnh, trừ những bệnh nguy tử. Bởi đó những người Pharisêu bỗng nhiên chia thành hai phe. Một phe cho rằng Đức Giêsu không phải là người của Thiên Chúa, nhưng là một người tội lỗi, vì đã không giữ ngày sa-bát. Phe kia cho rằng Đức Giêsu không thể là một người tội lỗi, vì làm sao một người tội lỗi lại có thể mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh (Ga 9,16). Như vậy không phải mọi người Pharisêu đều có cái nhìn tiêu cực về Đức Giêsu. Tuy nhiên, phe ủng hộ Đức Giêsu không mạnh bằng phe kia, như chúng ta sẽ thấy ở phần kế tiếp của bài Tin mừng.
5. Sau khi tra hỏi anh, giới lãnh đạo tôn giáo còn muốn điều tra cha mẹ của anh (Ga 9,18-23). Cha mẹ của anh mù “sợ người Do-thái”. “Người Do-thái” ở đây là những nhà lãnh đạo Do-thái giáo, họ có quyền trục xuất khỏi hội đường những ai tuyên bố Đức Giêsu là Đấng Kitô (Ga 9,22). Chính vì thế cha mẹ của anh rất dè dặt trong việc nói về con mình. Họ chỉ dám khẳng định đúng anh này là con của họ, đã bị mù từ lúc mới sinh, và nay đã được sáng mắt. Họ không dám nói gì về chuyện con mình được chữa lành ra sao. Họ khôn khéo dành câu trả lời này cho con của họ (Ga 9,21.23).
6. Thái độ của anh mù được sáng mắt trước những người Pharisêu (Ga 9,24-34) thì khác hẳn với thái độ của cha mẹ anh (Ga 9,18-23). Đây là lần thứ hai anh bị gọi ra điều tra (lần đầu ở Ga 9,13-17). Trong lần đầu, anh chỉ kể lại chuyện anh được Đức Giêsu làm cho sáng mắt. Lần này anh mạnh mẽ hơn trong việc khẳng định quan điểm của mình (Ga 9,25). Anh thách thức những người Do-thái (Ga 9,27), và đưa ra lý luận sắc bén để chứng minh Đức Giêsu không thể là người tội lỗi, nhưng là “người của Thiên Chúa” (Ga 9,30-33; x. Ga 9,16b). Những người Do-thái không sao bắt bẻ được lý luận này, nên đành chĩa mũi dùi vào chính con người anh: họ cho rằng anh là kẻ sinh ra đã tội lỗi ngập đầu, nên mới bị mù. Cuối cùng họ dùng quyền và vũ lực để tống anh ra ngoài (Ga 9,34).
7. Sau khi anh mù được sáng mắt, anh từ từ nhận ra người cứu chữa mình là ai. Trước tiên, anh biết tên người đó là Giêsu, nhưng không biết ông ấy ở đâu (Ga 4,11-12). Khi những người Pharisêu còn tranh cãi xem ông Giêsu là ai, thì anh đã khẳng định Ngài là “một vị ngôn sứ” (Ga 9,17), nghĩa là một người của Thiên Chúa, chứ không phải là một người tội lỗi. Khi bị điều tra lần thứ hai, anh lại khẳng định ông Giêsu là “người của Thiên Chúa” vì ông này đã mở mắt cho anh, một người mù từ khi mới sinh (Ga 9,30-33). Cuối cùng, khi gặp lại người đã chữa cho mình, anh đã tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu là “Con Người”, và bái lạy Ngài (Ga 9,35-38).
8. Các người Pharisêu (hay người Do-thái) ba lần đặt câu hỏi về “làm sao” ông Giêsu chữa cho anh mù được sáng mắt (Ga 9,15.19.26). Họ không muốn nhìn nhận sự kiện đó, nên cứ hỏi đi hỏi lại. Dấu lạ Đức Giêsu đã làm khiến họ hết sức lúng túng, vì nếu ông Giêsu là một người tội lỗi thì ông không thể làm dấu lạ lớn như thế được. Nhưng họ lại không muốn tin Đức Giêsu là người của Thiên Chúa. Họ thấy và biết Đức Giêsu là ai, nhưng họ đã giả vờ mù. Bởi đó Đức Giêsu nói với họ: “Tội của các ông vẫn còn” (Ga 9,41). Họ phạm tội khi không tin Đức Giêsu.

Kinh thánh bằng hình: Chúa nhật 4 Mùa Chay năm A
Đức Giê-su nói: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù”. (Ga 9,39)
Phúc âm: Ga 9,1-41
MỞ ĐÔI MẮT ĐỨC TIN
Đức Giê-su nói: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử:
cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù”. (Ga 9,39)
Suy niệm:
Với tình yêu kiên nhẫn, cô Anne Sullival đã giúp cho bé Helen Keller vừa bị mù vừa câm điếc vượt lên số phận cách kiên cường. Không chỉ biết đọc biết viết, Helen Keller đã tốt nghiệp đại học và trở thành giáo sư sử dụng được năm thứ tiếng. Chúa Giê-su không những cho anh mù bẩm sinh nhìn thấy bằng đôi mắt giác quan, Ngài còn mở cho anh đôi mắt đức tin nữa. Chúng ta cùng học kinh nghiệm sống đức tin của anh: – anh có cảm nghiệm sâu đậm về một lần gặp Chúa Giê-su và được Ngài chữa lành (8-11); – dù chỉ đơn thương độc mã, anh vẫn mạnh mẽ bảo vệ niềm tin vào Chúa Giê-su (13-17) và làm chứng về Ngài bằng một lập luận vững chắc (30-33); – lẽ sống của anh bây giờ chính là TIN Chúa Giê-su, cho dù có bị bách hại, kể cả bị cha mẹ bỏ rơi (18-34); – và đôi mắt đức tin của anh được mở hoàn toàn khi anh tuyên nhận Đức Giê-su và sấp mình thờ lạy Ngài (37).
Mời Bạn:
Xin Chúa mở cho chúng ta đôi mắt đức tin để chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Cha nhân từ, Ngài đang hiện diện, bao bọc và làm trong chúng ta những việc kỳ diệu. Để nhờ đó chúng ta luôn biết sống tin tưởng và phó thác nơi Người, nhất là những lúc ta gặp nhiều khó khăn nguy hiểm.
Chia sẻ: một cảm nghiệm gặp gỡ Chúa trong đời sống của mình.
Sống Lời Chúa: Tập nhìn thấy Chúa trong công việc và trong mọi người.
Cầu nguyện: Lạy Chúa xin mở lòng con để con hiểu ý Chúa, xin mở mắt con để con nhìn thấy Chúa, xin mở tai con để con nghe lời Chúa và xin mở miệng con để con nói Lời Chúa cho mọi người.
Thánh Kinh bằng tiếng Việt













Thánh Kinh bằng tiếng Anh













Trò chơi ô chữ – Chúa Nhật IV Mùa Chay – Năm A