Thiếu Nhi Sống Lời Chúa, Chúa Nhật thứ 3 mùa chay năm A  08/03/2026.

LỜI CHÚA MỖI NGÀY

Chúa Nhật III Mùa Chay – Năm A

“Xin cho chúng tôi nước để chúng tôi uống”.

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môsê rằng: “Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy”. Môsê kêu lên cùng Chúa rằng: “Con sẽ phải làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi”. Chúa liền phán bảo Môsê: “Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống”. Môsê làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là “Thử Thách”, vì con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa mà rằng: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?”

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9

Ðáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Các ngươi đừng cứng lòng!”

Xướng: Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Ðá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người!

Xướng: Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Ðấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người.

Xướng:Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Ðừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta”.

Bài Ðọc II: Rm 5, 1-2. 5-8

“Lòng mến Chúa đổ xuống lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Ðấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm

Lạy Chúa, Chúa thật là Ðấng cứu chuộc thế gian; xin ban cho con nước hằng sống, để con không còn khát nữa.

PHÚC ÂM: Ga 4,5-42 (Bài dài)

“Mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria).

Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”

Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”. Chúa Giêsu bảo: “Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói “tôi không có chồng” là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”.

Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.

Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.

Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: “Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?” Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Ðấng Kitô?” Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: “Xin mời Thầy ăn”. Nhưng Ngài đáp: “Thầy có của ăn mà các con không biết”. Môn đệ hỏi nhau: “Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?” Chúa Giêsu nói: “Của Thầy ăn là làm theo ý Ðấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Ðúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ”.

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: “Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm”. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.

Ðó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài ngắn này: Ga 4, 5-15. 19b-26. 39a. 40-42

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Dothái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Samaria).

Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này, và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”

Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát, và khỏi phải đến đây xách nước nữa”.

Và người đàn bà nói với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”. Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.

Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.

Ðó là lời Chúa.

Chủ tế: Anh chị em thân mến, chúng ta đang cùng nhau cử hành mầu nhiệm cứu chuộc của Chúa Kitô. Chúng ta hãy xin Cha nhân từ khai mở nguồn suối cứu độ và sự sống sung mãn cho mọi người như Chúa Kitô đã hứa với người phụ nữ xứ Samaria.

1. Xin cho Hội Thánh luôn hăng say loan báo và giúp mọi người tin rằng, Đức Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất mang đến ơn cứu độ cho trần gian.

2. Xin cho những ai đang khao khát công bằng và chân lý được Thánh Thần hướng dẫn đến nguồn mạch ơn cứu độ là Chúa Kitô.

3. Xin cho những anh chị em dự tòng đang chuẩn bị lãnh nhận các bí tích khai tâm Kitô giáo trong Đêm Thánh sắp tới được thật lòng trở về với Chúa, chuyên cần học hỏi và sống theo đức tin.

4. Xin cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta luôn khám phá niềm vui của Tin Mừng cứu độ khi gặp gỡ Chúa Kitô và hăng hái đưa người khác đến cùng Chúa Kitô.

Chủ tế: Lạy Chúa, như người phụ nữ xứ Samaria, xin cho chúng con luôn hân hoan kín múc dòng nước cứu độ nơi mạch suối thương xót của Chúa và trở nên những mạch suối cho thế giới khô cằn vì thiếu niềm tin vào Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

Bài giảng Chúa nhật cho thiếu nhi: Chúa nhật 3 Mùa Chay năm A

“Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng người thật là Ðấng cứu độ trần gian”. (Ga 4,42)

Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Chúng con vừa được nghe thánh sử Gioan thuật lại cho chúng ta một câu chuyện thật tuyệt vời.

Đọc xong câu chuyện này cha thấy nó rất phù hợp với Mùa Chay.

Cha đố chúng con biết tại sao cha dám nói thế ?

Mùa Chay là mùa kêu gọi người ta đổi mới cuộc đời và trở về với Chúa.

Cha thấy câu chuyện hôm nay là một cuộc đổi đời và trở về với Chúa rất đẹp, đẹp ngoài sự tưởng tượng của Cha. Câu chuyện này gồm ba bước:

1. Bước đầu tiên biết nhận tội:

Lúc đầu chúng con thấy người đàn bà này là một người hầu như chưa biết Chúa là ai. Thái độ của bà lại rất đanh đá. Bà không muốn tiếp chuyện với Chúa. Chỉ khi Chúa cho bà biết Chúa biết rất rõ về cuộc sống của bà, bà mới chịu nói chuyện.

“Xin cho tôi thứ nước đó để tôi khỏi còn phải ra đây kín nước nữa”

Chúa Giêsu đồng ý với một điều kiện:

“Về gọi chồng chị ra đây”

Khi nói thế Chúa biết bà ta sẽ trả lời thế nào rồi: “Tôi không có chồng”

Đúng là bà không có chồng. Chúa Giêsu biết điều đó và Chúa nói thật với bà “Chị đã có 5 đời chồng và người đang sống với chị không phải là chồng chị”.

Chúng con thấy bà ta phản ứng thế nào ? Bà ta im lặng, hoàn toàn im lặng như vậy là bà ta đã nhận lời Chúa nói là đúng.

Đây là việc đầu tiên của con đường trở về. Phải biết là mình có tội. Không biết nhận ra tội lỗi của mình thì không thể có sự trở về.

Mahatma Gandhi, vị lãnh đạo lừng danh của Ấn Độ, đã kể lại mẩu chuyện của đời ông:

Tôi phạm tội ăn cắp khi lên 15 tuổi Vì mắc nợ, tôi đã lấy trộm chiếc vòng bằng vàng của ba tôi để trả nợ. Nhưng tôi không thể nào chịu được sự ray rứt trong tâm hồn. Dù thế, vì quá mắc cỡ, tôi không thể nào mở miệng nói sự thật với ba tôi

Tôi viết lời thú tội vào một tờ giấy. Toàn thân tôi run rẩy khi tôi trao miếng giấy này cho ba tôi ông đã đọc, nhắm mắt lại một lúc và sau đó xé miếng giấy đi ông khẽ nói và choàng tay ôm tôi “Tốt lắm”.

Từ ngày đó, tôi lại càng yêu ba tôi hơn nữa”.

2. Bước thứ hai: Tin vào Thiên Chúa.

Tới đây thì câu chuyện đã chuyển sang một hướng khác. Khi bà ta thấy Chúa biết rõ về bà như thế thì lập tức bà thay đổi thái độ đối với Chúa: “Quả thật ngài là một ngôn sứ”.

Và kết cuộc thì thật kỳ diệu: Sau khi Chúa chỉ cho bà cách thức để bà có thể tìm gặp được một Thiên Chúa đích thực thì hình ảnh về một đấng Messia mà muôn dân đang mong đợi đã thoáng hiện ra trong tâm trí của bà: “Tôi biết Đấng Messia mà người ta gọi là Ki-tô sẽ đến và khi đến Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”(Ga 4,25)

Chúa Giêsu đã được bà gọi là Đấng Messia. Điều này có nghĩa là gì ? Thưa là bà đã tin vào Chúa Giêsu.Tin vào Chúa đó là bước thứ hai. Bước này cũng rất cần thiết vì có tin thì mới có bước thứ ba, bước cuối cùng.

Có một câu chuyện thật hay, kể về Mc. Leod Campbell, một nhà giảng thuyết người Scotland siêu phàm.

Ngày kia, một người bạn của ông tìm đến với ông, trong tâm trạng bối rối về mặt thiêng liêng:

– Xin anh nói cho tôi nghe làm thế nào mà anh biết rằng anh luôn luôn giữ được Thiên Chúa ?

Nhà giảng thuyết im lặng một lúc lâu, rồi sau đó, ông nói:

– Làm sao mà tôi biết rằng mình luôn luôn giữ được Thiên Chúa! Không phải lúc nào tôi cũng biết được điều đó. Nhưng tôi nhận biết rằng Người luôn luôn gìn giữ tôi!

3. Bước cuối cùng: Làm chứng cho Chúa.

Tới đây thì mọi sự đã thay đổi. Người đàn bà này bỏ vò nước xuống, chạy về thành loan báo cho mọi người rằng: “Ra mà xem một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng Ông đó là Đức Ki-tô!(Ga 4,29)

Một kết quả thật đẹp chúng con. Những người trong thành theo bà ra chỗ bà đã gặp Chúa. Họ đã thấy Chúa và sau khi được gặp Chúa họ đã tin Chúa: “Giờ đây không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là đấng Cứu Thế (Ga 4,42).

Thật quá đẹp chúng con.

Từ một con người tội lỗi, sau khi được giải thoát đã trở thành một người loan báo về Chúa cho những người khác. Từ một người không quen biết Chúa giờ đây đã trở thành người làm chứng để cho nhiều người cũng được biết Chúa: “Giờ đây không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là đấng Cứu Thế. (Ga 4,42)

Chúng ta cũng hãy cầu xin Chúa cho chúng ta cũng biết làm chứng cho tình thương của Chúa khi được biết Chúa, nhất là sau khi được Chúa thứ tha.

Một vua kia có vị thủ tướng rất tài giỏi vì học rộng biết nhiều. Ngày kia vị thủ tướng này trở lại đạo và luôn sống đức tin công giáo của mình trước mặt mọi người. Ngoài ra ông còn hay nói ông tin Đấng cứu thế đã đến thế gian để cứu chuộc loài người. Nhà vua nghe thế nhưng không hiểu. Một hôm kia nhà vua nói ông thủ tướng của mình: “Trẫm là vua, nếu trẫm thi hành điều gì thì chỉ cần truyền lệnh cho thần dân là đủ. Lẽ nào Đức Kitô là vua trên các vua mà lại tự hạ mình xuống thế gian này ? Điều đó rất vô lý!”
Vua muốn cho vị thủ tướng này về vườn, vì thấy ông tin theo Đức Kitô, song vua lại có lòng yêu mến ông nên hứa nếu ông giải nghĩa cho vua hiểu được việc này thì sẽ tha lỗi cho, không cách chức nữa. Vị thủ tướng xin vua cho mình suy nghĩ trong 24 giờ rồi sẽ giải đáp. Ông liền sai một người thợ mộc tài giỏi làm cho ông một tượng gỗ giống y hệt hình hoàng thái tử hai tuổi rồi cũng mặc quần áo giống hoàng thái tử. Ngày hôm sau lúc vua ngự thuyền rồng đi chơi với thủ tướng. Thủ tướng đã bố trí cho người thợ mộc ôm tượng hoàng thái tử đứng sắn ở sông bên kia, hễ xa xa thấy ông ra hiệu thì ném tượng hoàng thái tử xuống sông. Nhà vua đang ngồi trên thuyền chợt thấy tượng gỗ ấy rơi xuống sông, tưởng là con nên không kịp bảo ai, liến nhảy ngay xuống nước, bơi ra để cứu con.

Mọi sự xong xuôi, vị thủ tướng mới hỏi lại vua tại sao không sai một đầy tớ mà phải tự mình nhảy xuống nước làm gì, đến nỗi gần phải chết đuối và ướt hết long bào như thế. Vua trả lời: “Đó là do lòng thương”. Vị thủ tướng liền tâu với nhà vua: “Cũng giống như vậy, Đức Chúa Trời là Đấng Thượng Đế dựng nên thần cũng như muôn người muôn vật, cũng không đành lòng sai ai đem sứ mạng cứu rỗi xuống cho loài người; nhưng vì lòng yêu thương vô hạn, nên Ngài từ bỏ ngôi vinh hiển trên trời giáng xuống trần gian mà cứu chúng ta. Đó cũng là do nơi lòng thương chúng ta vậy!

 

Học hỏi Phúc âm: Chúa nhật 3 mùa Chay năm A

Ga 4,5-42

1. Đọc Ga 4,5-7. Để đi từ miền Giuđê (phía nam) trở lại miền Galilê (phía bắc), Đức Giêsu đã đi ngang qua miền Samari (nằm ở giữa hai miền nam-bắc). Người Do-thái có hay đi ngang qua miền này không? Tại sao?

2. Đọc Ga 4,5-7.9.27. Tại sao Đức Giêsu xin nước uống? Khi xin người phụ nữ Samari nước uống, Đức Giêsu đã phải vượt qua những bức tườngngăn cách nào?

3. Hãy tìm trong các sách Tin mừng hai trường hợp Đức Giêsu đã gặp một người nào đó để xin giúp đỡ.

4. Sau khi xin chị nước giếng, Đức Giêsu lại hứa cho chị này nước của Ngài. Đọc Ga 4,10-15 và cho biết thứ nước Đức Giêsu ban có gì đặc biệt.

5. Đọc Ga 4,16-19. Bởi đâu người phụ nữ Samari tin Đức Giêsu là một ngôn sứ? Bạn nghĩ gì về đời sống hôn nhân của chị này?

6. Khi đã tin Đức Giêsu là ngôn sứ rồi, chị muốn nói chuyện với Ngài về vấn đề gì? Đọc Ga 4,20-24. Cuối cùng Đức Giêsu đã nhận mình là ai? Đọc Ga 4,25-26.

7. Đọc Ga 4, 28-30. Tại sao người phụ nữ bỏ vò nước lại, chạy vào thành và mời mọi người đến gặp Đức Giêsu ở giếng? Tại sao người trong thành tin chị và đến gặp Ngài? Đọc Ga 4,39.

8. Đọc Ga 4, 40-42. Đâu là kết quả của việc Đức Giêsu ở lại hai ngày với người dân Samari?

CÂU HỎI SUY NIỆM: Bạn học được gì về cách thức Đức Giêsu gặp gỡ, trò chuyện với người phụ nữ Samari? Chị này đã biến đổi như thế nào chỉ sau một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Đức Giêsu bên bờ giếng?

PHẦN TRẢ LỜI

1. Đức Giêsu đã trải qua một hành trình dài từ miền Giuđê để trở lại miền Galilê. Ngài đã đi ngang qua miền Samari (Ga 4,3-4). Nhiều người Do-thái không muốn đi ngang qua miền đất này, vì họ coi đây là vùng đất ô uế như đất của dân ngoại. Thành kiến lâu đời này bắt nguồn từ một nguyên do trong lịch sử như sau. Khi vương quốc phía Bắc, có thủ đô là Samaria, rơi vào tay quân Assyria năm 722 trước công nguyên, nhiều người Do-thái bị lưu đày, nhưng cũng có những người được ở lại. Quân Assyria đến ở đất Samari, lấy vợ người Do-thái ở vùng này, và sinh con đẻ cái. Vì thế những người Do-thái thuần chủng ở vùng Giuđê không coi những người Do-thái ở vùng Samari như đồng bào của mình, thậm chí coi họ như dân ngoại. Đôi bên nuôi mối hiềm khích từ đó, đến thời Đức Giêsu vẫn còn.

2. Đức Giêsu đã đi một cuộc hành trình dài từ nam ra bắc. Khi đi ngang qua miền Samari, trời giữa trưa, Ngài thấy mệt mỏi, cần ngồi xuống nghỉ ngơi bên bờ giếng của ông Gia-cóp ngày xưa. Vì thấy khát nên Đức Giêsu đã xin nước nơi người phụ nữ miền Samaria. “Chị cho tôi uống với”: khi nói câu này, Đức Giêsu đã vượt qua nhiều bức tường ngăn cách: ngăn cách giữa đàn ông và đàn bà (Ga 4,27 cho thấy các môn đệ ngạc nhiên khi thấy Thầy mình nói chuyện với một phụ nữ ở nơi công cộng), ngăn cách giữa người Do-thái và người Samari (hai bên thù ghét nhau), ngăn cách giữa ô uế và thanh sạch (người Do-thái coi đất Samari, người Samari và nước giếng Samari là không thanh sạch, thế mà Thầy Giêsu lại xin chị ấy nước uống), và cuối cùng là ngăn cách giữa Đấng Thánh và tội nhân (chị này có đời sống bê bối). Bởi vậy khi thấy Đức Giêsu xin nước uống, chị phụ nữ Samari đã tỏ ra hết sức ngỡ ngàng (Ga 4,9).

3. Trước khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu đã hỏi ông Philípphê: “Chúng ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6,5). Ngài cần bánh để có thể làm phép lạ. Ông Anrê đã tìm được một em bé có 5 chiếc bánh và 2 con cá (Ga 6,8-9). Vào một lần khác, khi Đức Giêsu thấy đám đông chen lấn để đến gần mình mà nghe cho rõ, Ngài đã xin ông Si-môn chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi ngồi trên thuyền, Ngài giảng dạy đám đông (Lc 5,3). Xem thêm Mt 17,24-27.

4. Đức Giêsu xin chị nước giếng để uống cho đỡ khát, nhưng Ngài lại hứa cho chị một thứ nước khác có những đặc tính sau. Đó là nước hằng sống (living water, Ga 4,10.11). Nước hằng sống không phải là nước đọng hay nước ao tù, nhưng là dòng nước đang chảy và trong sạch. Nước hằng sống do Đức Giêsu ban cho còn có một đặc tính khác hẳn nước thường: ai uống rồi thì muôn đời sẽ không hề khát (Ga 4,14a). Hơn nữa, nước Ngài ban sẽ trở thành trong người ấy một mạch nước vọt lên dẫn đến sự sống đời đời (Ga 4,14b). Nghe Đức Giêsu nói về thứ nước kỳ diệu đó, người phụ nữ thấy mình bị hấp dẫn và mong có được. Chị đi từ địa vị của người cho nước sang địa vị của người xin nước. Chị chỉ mong có thứ nước này để khỏi phải vất vả đi kéo nước từ giếng (Ga 4,15). Thật ra người phụ nữ vùng Samari đã hiểu lầm. Đức Giêsu không hứa cho chị một thứ nước vật chất như nước giếng, nước sông. Nước hằng sống mà Ngài muốn ban cho chị có thể hiểu là giáo huấn của chính Ngài có khả năng đem lại sự sống đời đời. Cũng có thể hiểu nước này là Thánh Thần do Ngài ban (x. Ga 7,37-39).

5. Chị phụ nữ tin Đức Giêsu là một ngôn sứ (Ga 4,19) sau khi Ngài nói về đời tư của chị: chị đã có năm đời chồng, và đang chung sống với một người không phải là chồng mình (Ga 4,16-19). Điều đó cho thấy đời sống hôn nhân của chị đã ở trong tình trạng bất ổn một thời gian dài. Chúng ta không rõ tại sao chị lại có nhiều chồng đến thế! Và tại sao người chị đang chung sống lại không phải là chồng của chị? Đức Giêsu biết rõ chị không hạnh phúc trong đời sống vợ chồng, nhưng Ngài không nhìn quá khứ của chị bằng cái nhìn soi mói. Sự cảm thông của Ngài làm cho chị thấy được tin tưởng, đón nhận.

6. Khi đã tin Đức Giêsu là vị ngôn sứ rồi, chị đã chuyển câu chuyện qua đề tài mới về đền thờ (Ga 4, 20-24). Chị phân vân tự hỏi phải thờ phượng Thiên Chúa ở đền thờ nào: đền thờ của người dân Samari ở núi Garizim, hay đền thờ của người Do-thái ở Giêrusalem. Đức Giêsu trả lời bằng cách nói đến việc thờ phượng trong thần khí và sự thật. Cuối cùng, Đức Giêsu cho chị biết mình là Đấng Kitô mà cả người Do-thái lẫn người Samari mong đợi (Ga 4,25-26).

7. Khi nghe Đức Giêsu nhận mình là Đấng Kitô, chị vội vã để lại vò nước, chạy mau về, kêu gọi dân thành Samari ra gặp Ngài. Người ta tin lời chị làm chứng rằng chị đã gặp một người biết cả quá khứ của chị (Ga 4,39). Chị muốn cả dân thành cũng được hưởng niềm vui chị đang hưởng, đó là gặp được Đấng Kitô hay Đấng Mêsia (Ga 4,25).

8. Sau hai ngày Đức Giêsu ở với dân thành Xy-kha và giảng cho họ nghe, họ đã tin Ngài là Đấng Cứu Độ trần gian (Ga 4,42). Niềm tin này còn mạnh hơn niềm tin Đức Giêsu là một ngôn sứ hay là Đấng Kitô (Ga 4,19.26). Như thế trước đây họ tin Đức Giêsu là Đấng Kitô là nhờ người phụ nữ Samari giới thiệu (Ga 4,29). Còn bây giờ họ tin Đức Giêsu là Đấng Cứu độ trần gian vì đã được Ngài ở lại hai ngày (Ga 4,40).

 

CN3MCA – 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi

Như người phụ nữ gặp được Chúa đã xóa tan mắc cảm tội lỗi, trở nên rạng rỡ loan báo tin vui cho mọi người; chúng ta hãy đến với Bí tích Xưng tội để được Chúa tha thứ mọi lỗi lầm và năng kết hiệp với Chúa Giê-su Thánh Thể để được dồi dào ân sủng. Và từ đó, mang niềm vui đến cho mọi người trong gia đình cũng như trong cộng đoàn của chúng ta.
CN3MCA - 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi

Tin Mừng thánh Ga 4, 1-42

Chào các em,
Hôm nay, Chúa Nhật 3 Mùa Chay, năm A. Tin mừng theo thánh Gio-an.
Bài Tin mừng hôm nay thánh Gio-an thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ bên bờ giếng của ông Gia-cóp. Qua câu chuyện, chị tin nhận Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a, và rồi, chị trở thành người loan báo tin mừng cho dân thành Sa-ma-ri. Cuối cùng, rất đông người Sa-ma-ri đã tin theo Chúa sau khi gặp gỡ Ngài.

“Đức Giê-su bỏ miền Giu-đê mà trở lại miền Ga-li-lê. Do đó, Người phải băng qua Sa-ma-ri. Vậy, Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, [   ]. Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa. Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước” (Ga 4, 3-7a). Thường tình, chẳng ai đi lấy nước vào giữa trưa cháy bỏng da người này. Việc chị đi vào giữa trưa này để tránh những ánh mắt phán xét, hay những lời xầm xì về cuộc đời đầy tội lỗi của mình. Chị cô đơn ngay chính trên quê hương của mình.

“Đức Giê-su nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống! […] Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri” (Ga 4, 7b-9). Người Do thái, miền Giu-đê và ngay cả miền Ga-li-lê vẫn coi người Sa-ma-ri là kẻ tội lỗi, là dân ngoại… Họ không muốn tiếp xúc. Qui định xã hội, người nam Do thái không được nói chuyện với người lạ, nhất là một Rabbi, một thầy dạy. Nhưng Chúa Giê-su đã chủ động xin chị nước uống. Ngài đi bước trước như một người cần giúp đỡ về thể xác để có thể mở cửa trái tim đang đóng kín bởi mặc cảm của người phụ nữ.

Cuộc đối thoại diễn ra đầy thi vị giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ, khi hai bên nói về hai loại nước khác nhau. Người phụ nữ nói về nước tự nhiên ở dưới đáy giếng sâu, còn Chúa Giê-su lại “Nước Hằng Sống”, về ân sủng. Chúa Giê-su khẳng định: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa” (Ga 4, 13-14a).

Cơn khát của người phụ nữ cũng chính là cơn khát của con người mọi thời đại. Chúng ta khát tình cảm, khát tiền tài, khát danh vọng… Nhưng càng uống, càng khát hơn. Bởi chúng ta đang dùng những thứ hữu hạn để lấp đầy khoảng trống vô hạn trong đời mình. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể lấp đầy bằng “Nước Hằng Sống”, bằng ân sủng của Ngài.

Cuộc đối thoại trở nên kịch tính khi Chúa Giê-su nói: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” Đây là cú chạm trực tiếp vào tận đáy lòng chị. “Người phụ nữ đáp: “Tôi không có chồng.” Câu trả lời của chị là nửa sự thật, nửa sự che đậy. Chúa Giê-su nhẹ nhàng bảo chị: “Chị nói: “Tôi không có chồng” là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng” (x. Ga 4, 16-18).

Chúa Giê-su ân cần nhắc nhở chị. Ngài chỉ ra sự thật để giải thoát chị. Và chị nhận ra người đang đối thoại với chị không phải là một người thường. Chị thốt lên: “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ.” (Ga 4, 19). Đây là bước tiến đầu tiên trong đức tin của chị. Người phụ nữ nói: “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” Và chính Chúa Giê-su khẳng định: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga 4, 25-26).

Sau khi nhận biết Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a, người phụ nữ làm một hành động mang ý nghĩa sâu sắc: “Người phụ nữ để vò nước lại”(c 28). Chiếc vò nước này đại diện cho những bận tâm cũ, những gánh nặng của quá khứ, những khao khát trần tục mà chị đã bám lấy. Giờ đây, chị đã có “mạch nước trường sinh” trong lòng, chị không cần đến chiếc vò cũ nữa. Chị chạy về thành, nơi mà trước đó chị hằng né tránh, để loan báo về Chúa Giê-su. “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?”(c 29)  Lời chứng của chị có sức thuyết phục mãnh liệt vì nó xuất phát từ một sự biến đổi có thật. Một người phụ nữ tội lỗi, xấu hổ nay trở nên rạng rỡ, đầy lửa nhiệt huyết. Dân thành Sa-ma-ri đã bị đánh động bởi sự thay đổi của chị và “Họ ra khỏi thành và đến gặp Người” (c 30).

Dân thành Sa-ma-ri nài xin Chúa Giê-su ở lại với họ. Chúa Giê-su đã ở lại hai ngày. Đó là hai ngày họ cùng ăn, cùng ở, cùng lắng nghe Chúa Giê-su. Kết quả là họ đã tuyên xưng: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4, 41-42).

Các em thân mến,
Người phụ nữ Sa-ma-ri đã gặp Chúa Giê-su, chị đã được biến đổi. Từ một con người mặc cảm tội lỗi, né tránh tiếp xúc với mọi người nay trở thành người loan báo tin vui và kêu gọi mọi người đến gặp ‘Đấng cứu độ trần gian’.

Các em thân mến,
Chúng ta có thể học được gì từ người phụ nữ Sa-ma-ri trong Mùa Chay thánh này?

Như người phụ nữ gặp được Chúa và đã biến đổi, chúng ta hãy dành thời gian để gặp Chúa trong Lời của Ngài qua việc đọc Kinh Thánh và suy niệm hằng ngày.

Như người phụ nữ gặp được Chúa đã xóa tan mặc cảm tội lỗi, trở nên rạng rỡ loan báo tin vui cho mọi người; chúng ta hãy đến với Bí tích Xưng tội để được Chúa tha thứ mọi lỗi lầm và năng kết hiệp với Chúa Giê-su Thánh Thể để được dồi dào ân sủng. Và từ đó, mang niềm vui đến cho mọi người trong gia đình cũng như trong cộng đoàn của chúng ta.

Có như thế, chúng ta mới trở nên những tông đồ đích thực của Chúa Giê-su.

Hãy trở nên những học trò ngoan của Thầy Giê-su các em nhé.

Mến chào tất cả các em.

Kinh thánh bằng hình: Chúa nhật 3 Mùa Chay năm A

“Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi “.

PHÚC ÂM:  Mt 4, 12-23
“Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.

“Tại Galilê, vùng đất của dân ngoại, dân đã thấy một ánh sáng huy hoàng”,  ánh sáng có sức xua tan bóng tối. Với những lời này, ngôn sứ Isaia mở ra một niềm hy vọng lớn lao với chứa chan niềm vui cho những người dân đang lầm lũi bước đi trong bóng tối. (Bài đọc I)
Để ánh sáng này thực sự chiếu tỏa, Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu giáo đoàn Côrintô “nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói”, sống hòa thuận và một lòng với nhau. (Bài đọc II)
Còn Thánh Matthêu thì kể lại sự kiện Đức Giêsu đến ở Capharnaum để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia. Tại đây, bên cạnh biển hồ Galilê, Đức Giêsu đã khởi đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa. Ngài chính là ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi cho thế giới. Con người có khả năng đón nhận ánh sáng này khi quyết tâm hoán cải, đồng thời đón nhận ơn gọi trở nên những người chài lưới  các linh hồn, cộng tác với Đức Giêsu trong sứ vụ mang ánh sáng cứu độ đến cho muôn dân. (Bài Tin Mừng)
Thánh Matthêu đã tóm tắt sứ vụ của Đức Giêsu bằng một câu ngắn gọn: “Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân” (4,23)
Đức Giêsu là ánh sáng tuyệt diệu của Thiên Chúa đã chiếu tỏa trên thế gian. Gioan Tẩy Giả và các môn đệ của Chúa đã được diễm phúc trực tiếp chiêm ngắm ánh sáng này. Và họ đã trở thành chứng nhận của Ánh Sáng.
Chúng con đã rất hạnh phúc được chiêm ngưỡng ánh sáng mặt trời công chính là Đức Kitô, được ở với Ngài, sống với Ngài, nên một với Ngài. Và chúng con hân hoan làm chứng cho Ngài, ôi Ánh Sáng tuyệt diệu và nhiệm mầu.
Nguồn: Nhịp sống Tin Mừng số 01(tháng 01.2017)

Thánh Kinh bằng tiếng Việt

Thánh Kinh bằng tiếng Anh

Trò chơi ô chữ – Chúa Nhật III Mùa Chay – Năm A